Trang chủ Giới thiệu Liên hệ        
  Quảng cáo
Số lượt truy cập
Số lượt ghé thăm:  19623
Số người online: 28
 
           
      TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ      

XÃ HỘI HÓA CÔNG CHỨNG - YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA XÃ HỘI

        Xã hội hoá là việc nhà nước chuyển giao cho tư nhân đảm nhiệm một số chức năng mà nhà nước đảm nhiệm. Xu thế chung là xã hội hoá các dịch vụ công, không mang tính chất hành chính đơn thuần. Xã hội hoá đã góp phần nâng cao chất lượng và đa dạng hoá dịch vụ. Các nghành y tế, giáo dục đã triển khai mạnh mẽ việc xã hội hoá từ nhiều năm nay, rất nhiều bệnh viện tư, phòng khám tư và trường tư thục đã ra đời và hoạt động tốt; Một số nghành khác cũng đã bước đầu thực hiện việc xã hội hoá như: vận tải bằng xe buýt, vệ sinh môi trường và hoạt động đã đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Việc xã hội hoá công chứng đã được đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng đây là một ngành nghề đặc thù vừa mang tính chất dịch vụ công vừa mang tính chất hành chính nhà nước, việc xã hội hoá đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết nên chưa được triển khai mạnh mẽ; Tuy nhiên, xã hội hoá công chứng đã trở thành một xu thế tất yếu để đáp ứng cho được các yêu cầu bức thiết của xã hội;
         Hiện nay, các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, xã hội đã phát triển mạnh mẽ, đa dạng trên cả bề rộng và bề sâu, cả trong nước và cả với nước ngoài. Nhiều giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại đòi hỏi phải được công chứng, chứng thực để tạo chứng cứ có sức thuyết phục cao. Việc công chứng, chứng thực được yêu cầu thực hiện một cách chính xác theo đúng pháp luật nhưng phải nhanh chóng kịp thời, thuận tiện cho người dân; Theo pháp luật hiện hành, các cơ quan công chứng đảm nhiệm rất nhiều việc: chứng nhận bản sao, bản dịch, các hợp đồng, giao dịch và UBND cấp quận huyện chứng thực bản sao và các hợp đồng, giao dịch (Trừ các hợp đồng giao dịch có yếu tố nước ngoài và các hợp đồng giao dịch liên quan đến động sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên) trong đó việc chứng nhận bản sao chiếm hơn 90 % lượng công việc. UBND phường xã được chứng thực bản sao các giấy tờ hộ tịch, di chúc, từ chối nhận di sản, chứng nhận chữ ký, chứng nhận chuyển dịch QSD đất..v.v. Ngoài ra, các cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện ở nước ngoài đảm nhiệm việc chứng nhận một số giao dịch, giấy tờ ở nước ngoài. Hợp đồng cần đươc công chứng, chứng thực rất đa dạng: mua bán, tặng cho, thế chấp, cầm cố, thuê, di chúc, thừa kế, phân chia bất động bản, động sản, hợp đồng kinh tế, thương mại, chứng nhận chữ ký một số loại văn bản và chứng nhận các thoả thuận dân sự khác. Mặc dù, có nhiều cơ quan nhà nước cùng đảm nhiệm việc công chứng, chứng thực nhưng các yêu cầu công chứng, chứng thực rất lớn nên các yêu cầu đó chưa được đáp ứng một cách nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết là khó khăn về việc mở rộng đội ngũ công chứng viên. Đội ngũ công chứng viện hiện tại quá ít so với yêu cầu của thực tế. Xin đơn cử một so sánh để thấy được khó khăn nay. Tại CH Pháp, công chứng viên chỉ chuyên trách chứng nhận hợp đồng giao dịch, không phải chứng nhận bản sao, bản dịch nhưng cho tới nay phải cần tới 7000 công chứng viên. Tại nước ta, công chứng viên vừa kiêm chứng nhận bản sao bản dịch khối lượng lớn vừa chứng nhận nhiều loại hợp đồng giao dịch do pháp luật qui định nhưng hiện tại chỉ có hơn 300 công chứng viên. UBND cấp quận huyện, phường xã ngoài việc chứng thực còn phải kiêm nhiệm các việc mang tính chất quản lý hành chính nhà nước nên chỉ giải quyết được một số lượng việc nhất định. Việc lập thêm các phòng công chứng ở các địa phương cũng gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn về nguồn bổ nhiệm công chứng viên: phải lựa chọn trong số các công chức thuộc biên chế nhà nước để bổ nhiệm công chứng viên. Ngoài ra, việc tuyển chọn cán bộ giúp việc cho công chứng viên cũng không dễ vì phải được cơ quan tổ chức cho phép, phải có hộ khẩu ở địa phương và về lâu về dài phải trải qua kỳ thi tuyển để vào công chức. Do đội ngũ công chứng viên còn mỏng, số phòng công chứng ít nên phần lớn phòng công chứng ở các thành phố lớn có tình trạng quá tải bản sao, khách phải xếp hàng đông, chờ đợi lâu, văn minh công sở khó thực hiện được tốt. Việc xây dựng trụ sở cho các phòng công chứng cũng gặp nan giải. Tại các thành phố lớn, việc xin được đất để xây dựng trụ sở là cả một vấn đề lớn, có đất rồi thì tổ chức xây trụ sở cũng là cả một vấn đề lớn vì phải được cơ quan hành chính cấp trên phê duyệt cho xây, tổ chức đấu thầu xây dựng và đấu thầu giám sát; cơ quan qui hoạch, kiến trúc xác định địa điểm, thiết kế; cơ quan tài chính phê duyệt kinh phí, thì mới triển khai được.   
         Xã hội hoá công chứng là một giải pháp giải quyết được các khó khăn nói trên. Một khi được phép thành lập văn phòng công chứng thì nguồn bổ nhiệm công chứng viên được mỏ rộng thêm nhiều, công chứng viên không nhất thiết phải thuộc biên chế nhà nước, một người chỉ cần có đủ các điều kiện theo qui định thì sẽ được xem xét bổ nhiệm công chứng viên, đội ngũ giúp việc cho công chứng viên hoàn toàn do công chứng viên tự tuyển chọn. Về cơ sở vật chất thì công chứng viên sẽ tự lo, cơ quan nhà nước chỉ cần xem xét đã đủ điều kiện hay chưa; Về cơ chế tài chính đối với thu chi văn phòng công chứng cũng sẽ đơn giản hơn nhiều. Hiện tại các phòng công chứng đang được xếp vào một dạng cơ quan hành chính, một số địa phương thì xếp vào loại hành chính sự nghiệp nên việc thu chi tài chính tuân theo nghị định 10 của CP và khoản chi bị khống chế ở một mức nhất định. Nếu là văn phòng công chứng thì cơ chế tài chính sẽ linh hoạt hơn, không bị gò bó nên sẽ có sức động viên khuyến khích lao động cao hơn.
        Tuy nhiên, việc xã hội hoá công chứng thời gian đầu sẽ gặp một số khó khăn nhất định và đặt ra một số vấn đề phải giải quyết liên quan đến việc quản lý hoạt động của các công chứng viên thuộc văn phòng công chứng tư. 
        Khó khăn thứ nhất là nước ta đang là một nước đang phát triển, đang quá trình thực hiện pháp chế XHCN, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân chưa cao, hệ thống pháp luật đang quá trình hoàn thiện. XHH công chứng có thể được coi là tiền lệ đầu tiên về XHH đối với lĩnh vực có liên quan đến công quyền. Từ trước đến nay, việc thực thi công quyền đều do cơ quan nhà nước thực hiện. Mỗi cơ quan công quyền chịu sự kiểm soát toàn diện của cơ quan nhà nước cấp trên cùng với các cơ quan chuyên môn cùng cấp theo thể thức quản lý hành chính và phân công phân nhiệm. Sự kiểm soát được thực hiện tất cả các khâu từ bổ nhiệm, kiểm soát hoạt động hàng ngày, chỉ đạo thực hiện, kỷ luật hành chính, thanh tra, phối hợp công tác. v.v.. Trong trưòng hợp XHH công chứng thì nhà nước chỉ kiểm soát công chứng viên ở một số khâu nhất định như xét duyệt, bổ nhiệm, bãi miễn công chứng viên. Việc hành nghề như thế nào hoàn toàn do công chứng viên tự thực hiện trên cơ sở tuân thủ các qui định pháp luật mà công chứng viên đó nhận thức được. Công việc của công chứng viên chịu sự kiểm soát của các cơ quan chuyên môn như: cơ quan thuế kiểm tra việc thu phí, lệ phí, cơ quan toà án xử lý tranh chấp trong văn bản công chứng, cơ quan công an điều tra và cơ quan kiểm sát giám sát việc tuân thủ pháp luật. Công chứng viên chịu trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự. Về trách nhiệm kỷ luật, theo thông lệ chung thì công chứng viên của văn phòng công chứng chịu trách nhiệm kỷ luật trước tổ chức hiệp hội hành nghề công chứng. Nhưng, trong thời gian đầu chưa thành lập ngay được tổ chức hiệp hội hành nghề công chứng để thực hiện việc đó. Việc thực hiện khiếu nại đối với công chứng viên văn phòng công chứng tư trong thời gian đầu cũng sẽ có một số vướng mắc nhất định. Khác với phòng công chứng nhà nước, theo pháp luật hiện hành thì một khi công chứng viên từ chối thực hiện công chứng mà không có lý do chính đáng thì người dân có quyền khiếu nại lên trưởng phòng công chứng rồi lên giám đốc sở tư pháp- cơ quan hành chính cấp trên, để giải quyết. Nhưng đối với văn phòng công chứng tư thì việc khiếu nại sẽ lên đâu vì văn phòng công chứng không phải là cơ quan hành chính, trong khi chưa tồn tại Hiệp hội công chứng để giải quyết các khiếu nại đó vì thông thường, hiệp hội nghề nghiệp là cơ quan xử lý khiếu nại đối với công chứng viên hành nghề tự do. Vấn đề đặt ra tiếp theo là việc thực hiện trách nhiệm dân sự của công chứng viên văn phòng công chứng. Theo dự thảo luật công chứng thì công chứng viên phải đóng bảo hiểm nghề nghiệp. Tuy nhiên, trong trường hợp công chứng viên bị miễn nhiệm vì một lý do gì đó và họ thôi không đóng bảo hiểm nữa. Nếu sau thời điểm đó mà phát sinh tranh chấp về văn bản hợp đồng do công chứng viên lập trước đó và khách hàng bị thiệt hại do lỗi của công chứng viên trong khi đó cơ quan bảo hiểm không còn trách nhiệm chi trả thì sự bồi thường thiệt hại dân sự sẽ thực hiện như thế nào. Nếu chỉ dựa trên tài sản cá nhân của công chứng viên thì khó mà bù đắp được thiệt hại của khách hàng, bởi vì thiệt hại của khách hàng do lỗi của công chứng viên có thể rất lớn, lớn rất nhiều lần so với tài sản của công chứng viên. Trường hợp công chứng viên nghỉ hưu, chết, mất năng lực hành vi, bị miễn nhiệm cũng làm phát sinh một số vấn đề phải giải quyết. Ai là người được thừa kế, bảo quản khối tài liệu lưu trữ công chứng, trụ sở, cơ sở vật chất của công chứng viên đó. Tại CH Pháp, thông thường công chứng viên đương nhiệm khi chuẩn bị xin nghỉ việc sẽ giới thiệu bổ nhiệm một công chứng viên mới cho văn phòng công chứng đó. Công chứng viên mới được bổ nhiệm có nghĩa vụ tiếp thu khối tài liệu lưu trữ và thanh toán cho công chứng viên tiền nhiệm toàn bộ chi phí mua trụ sở, sắm trang thiết bị và cả thương hiệu của văn phòng.
         Do vậy, việc xã hội hoá công chứng có thể được coi là một tất yếu, cần phải được triển khai càng sớm càng tốt để giải quyết các yêu cầu bức xúc của xã hội. Mô hình công chứng tư đã tồn tại ở nhiều nước trên thế giới. Tại những nước đó, công chứng tư được hình thành ngay từ khi có nghề công chứng và từ trước đến nay hoạt động rất có hiệu quả và được xã hội coi trọng. Ví dụ, công chứng tư ở Pháp đã có ngay từ ngày đầu của cách mạng tư sản pháp. Tuy nhiên, tại Việt Nam đây là vấn đề mới nên phải có một lộ trình để vừa thực hiện vừa rút kinh nghiệm trong việc vận hành văn phòng công chứng và hoàn thiện cơ chế quản lý của cơ quan nhà nước đối với các văn phòng công chứng để hạn chế tối đa những khiếm khuyết có thể xảy ra. /.
Bình luận:

- Nguyen Minh - 30/01/2010
Right, should be make soon .. Thanks,
- hermes handbag price - 15/03/2014
hermes belt real or fake XÃ HỘI HÓA CÔNG CHỨNG - YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA XÃ HỘI hermes handbag price http://babytwinkles.co.uk/hermes-birkin-fake-hermes-handbag-price-6809.asp
- hermes rheine - 17/03/2014
hermes paket erfahrungsberichte XÃ HỘI HÓA CÔNG CHỨNG - YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA XÃ HỘI hermes rheine http://heavydutypump.com/the-differences-between-hermes-rheine-kelly-and-birkin.asp
- hermes outlet france3 - 19/03/2014
hermes belt leather XÃ HỘI HÓA CÔNG CHỨNG - YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA XÃ HỘI hermes outlet france3 http://concoursoftexas.org/hermes-bags-france-hermes-outlet-france-5219.asp
- Gabriella - 04/07/2014
Thanks for the blog.Much thanks again. Really Great. Gabriella http://00vandyke.yolasite.com/00vandyke.php

GỬI Ý KIẾN (Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu):

*Họ Và Tên:  
Email:  
*Nội dung:  

  Click để xem bản đồ
  Tư vấn trực tuyến
Tư vấn viên 1
Tư vấn viên 2
Tư vấn viên 3
Tư vấn viên 4
Tư vấn viên 5
Tư vấn viên 6